Tin tức

RỐI LOẠN PHỔ TỰ KỶ Ở TRẺ EM

RỐI LOẠN PHỔ TỰ KỶ Ở TRẺ EM

31/01/2026

Cách tiếp cận khoa học – nhân văn trong nhận diện, hỗ trợ và can thiệp sớm

1. Rối loạn phổ tự kỷ: Nhận thức đúng từ nền tảng khoa học

Rối loạn phổ tự kỷ (Autism Spectrum Disorder – ASD) là một dạng rối loạn phát triển thần kinh, xuất hiện sớm trong thời thơ ấu và ảnh hưởng lâu dài đến cách trẻ giao tiếp, tương tác xã hội, học tập, xử lý cảm giác và thích nghi với môi trường sống.

Theo các hệ thống phân loại quốc tế hiện hành như DSM-5 (Hiệp hội Tâm thần Hoa Kỳ) và ICD-11 (Tổ chức Y tế Thế giới), rối loạn phổ tự kỷ không được xem là một “bệnh”, mà là một phổ phát triển khác biệt của não bộ, với mức độ và biểu hiện rất đa dạng giữa các cá nhân.

Khái niệm “phổ” nhấn mạnh rằng:

  • Không có một hình mẫu tự kỷ duy nhất

  • Mỗi trẻ có điểm mạnh, điểm hạn chế và nhu cầu hỗ trợ riêng

  • Mức độ cần can thiệp có thể thay đổi theo thời gian và bối cảnh

👉 Việc sử dụng thuật ngữ “rối loạn phổ tự kỷ” phản ánh cách tiếp cận khoa học, tôn trọng và nhân văn, thay vì nhìn nhận trẻ dưới góc độ bệnh lý hóa.

2. Bức tranh toàn cảnh: Tỷ lệ, xu hướng và nhận thức xã hội

Trong vài thập kỷ gần đây, số lượng trẻ được xác định thuộc phổ tự kỷ có xu hướng gia tăng trên toàn cầu. Tuy nhiên, giới học thuật thống nhất rằng sự gia tăng này không đồng nghĩa với việc tự kỷ “bùng phát”, mà chủ yếu đến từ:

  • Nhận thức xã hội tốt hơn

  • Công cụ sàng lọc và đánh giá ngày càng chính xác

  • Mở rộng và tinh chỉnh tiêu chí chẩn đoán

Theo Trung tâm Kiểm soát và Phòng ngừa Dịch bệnh Hoa Kỳ (CDC), tỷ lệ ASD hiện vào khoảng 1/36 trẻ em.
Tại Việt Nam, dù chưa có hệ thống thống kê quốc gia đầy đủ, thực tiễn cho thấy nhu cầu đánh giá và can thiệp cho trẻ rối loạn phổ tự kỷ đang gia tăng rõ rệt, đặc biệt tại các đô thị lớn.

Điều này đặt ra yêu cầu cấp thiết về:

  • Hệ thống can thiệp sớm

  • Đào tạo chuyên môn

  • Truyền thông xã hội đúng đắn, không kỳ thị

3. Nguyên nhân của rối loạn phổ tự kỷ: Góc nhìn đa yếu tố

3.1. Không tồn tại một nguyên nhân đơn lẻ

Các nghiên cứu khoa học hiện đại khẳng định rằng rối loạn phổ tự kỷ là kết quả của sự tương tác phức tạp giữa nhiều yếu tố, bao gồm di truyền, sinh học thần kinh và môi trường phát triển sớm.

3.2. Yếu tố di truyền

  • RPTK có tính di truyền cao

  • Trẻ có người thân ruột thịt thuộc phổ tự kỷ có nguy cơ cao hơn

  • Nhiều gen liên quan đến:

    • Sự hình thành synapse

    • Kết nối mạng lưới thần kinh

    • Điều hòa hành vi và cảm xúc

Tuy nhiên, di truyền không mang tính quyết định tuyệt đối, mà chỉ làm tăng nguy cơ trong một bối cảnh phát triển nhất định.

3.3. Khác biệt trong phát triển và chức năng não bộ

Các nghiên cứu hình ảnh học thần kinh (MRI, fMRI) chỉ ra rằng ở trẻ thuộc phổ tự kỷ có thể tồn tại:

  • Sự khác biệt trong cấu trúc não

  • Sự kết nối không điển hình giữa các vùng não

  • Cách xử lý thông tin xã hội và cảm giác khác biệt

Những khác biệt này góp phần lý giải vì sao trẻ:

  • Gặp khó khăn trong giao tiếp xã hội

  • Phản ứng mạnh hoặc yếu với kích thích cảm giác

  • Có xu hướng hành vi lặp lại

3.4. Yếu tố môi trường

Một số yếu tố trước và trong thai kỳ được nghiên cứu có liên quan, như:

  • Biến chứng thai kỳ

  • Sinh non

  • Một số tác động sinh học sớm

❗ Quan trọng cần nhấn mạnh:
Không có bằng chứng khoa học cho thấy tiêm chủng, cách nuôi dạy hay thiết bị điện tử là nguyên nhân gây rối loạn phổ tự kỷ.

4. Biểu hiện cốt lõi của rối loạn phổ tự kỷ

Theo DSM-5, các biểu hiện được chia thành hai nhóm chính:

4.1. Khó khăn trong giao tiếp và tương tác xã hội

  • Ít giao tiếp bằng mắt

  • Ít chia sẻ cảm xúc, sở thích

  • Khó hiểu tín hiệu xã hội (nét mặt, cử chỉ)

  • Khó thiết lập và duy trì mối quan hệ bạn bè

4.2. Hành vi, sở thích và hoạt động mang tính hạn chế – lặp lại

  • Lặp lại hành động hoặc lời nói

  • Gắn bó cứng nhắc với thói quen

  • Phản ứng mạnh với thay đổi

  • Quan tâm đặc biệt đến một chủ đề hẹp

4.3. Ngôn ngữ và giao tiếp không đồng đều

  • Chậm phát triển ngôn ngữ

  • Ngôn ngữ không mang tính giao tiếp

  • Lặp lời (echolalia)

  • Có vốn từ tốt nhưng khó hội thoại hai chiều

4.4. Khác biệt trong xử lý cảm giác

Nhiều trẻ thuộc phổ tự kỷ gặp rối loạn xử lý cảm giác:

  • Quá nhạy hoặc kém nhạy với âm thanh, ánh sáng, xúc giác

  • Khó tự điều chỉnh cảm xúc

  • Dễ quá tải trong môi trường đông người

5. Hệ quả lâu dài nếu không được hỗ trợ phù hợp

Khi trẻ không được nhận diện và can thiệp kịp thời, có thể dẫn đến:

  • Hạn chế trong học tập và phát triển kỹ năng

  • Khó hòa nhập xã hội

  • Nguy cơ lo âu, trầm cảm ở tuổi vị thành niên

  • Giảm khả năng tự lập khi trưởng thành

👉 Can thiệp sớm không thay đổi bản chất phổ tự kỷ, nhưng thay đổi đáng kể quỹ đạo phát triển của trẻ.

6. Đánh giá và xác định nhu cầu hỗ trợ

Đánh giá rối loạn phổ tự kỷ là một quy trình chuyên môn, bao gồm:

  • Phỏng vấn phụ huynh

  • Quan sát trẻ trong nhiều môi trường

  • Sử dụng công cụ đánh giá chuẩn hóa

  • Đánh giá ngôn ngữ, nhận thức, vận động, cảm giác

Mục tiêu của đánh giá không phải là “dán nhãn”, mà là:

Hiểu rõ trẻ cần hỗ trợ gì – ở mức độ nào – trong bối cảnh nào.

7. Các phương pháp can thiệp và hỗ trợ hiện nay

7.1. Can thiệp sớm

  • Áp dụng cho trẻ từ 0–6 tuổi

  • Dựa trên tính mềm dẻo của não bộ

  • Được chứng minh là yếu tố then chốt giúp cải thiện kỹ năng

7.2. Phân tích hành vi ứng dụng (ABA)

  • Dựa trên khoa học hành vi

  • Cá nhân hóa theo từng trẻ

  • Phát triển kỹ năng giao tiếp, học tập và tự lập

7.3. Can thiệp ngôn ngữ – giao tiếp

  • Trị liệu ngôn ngữ chuyên sâu

  • Giao tiếp tăng cường – thay thế (AAC, PECS)

  • Tập trung vào giao tiếp chức năng

7.4. Trị liệu hoạt động và cảm giác

  • Điều hòa cảm giác

  • Phát triển kỹ năng sinh hoạt hằng ngày

  • Tăng khả năng tự kiểm soát và tự lập

7.5. Giáo dục đặc biệt và hòa nhập

  • Chương trình giáo dục điều chỉnh

  • Môi trường học tập hỗ trợ

  • Phối hợp chặt chẽ giữa gia đình – trung tâm – nhà trường

8. Gia đình – trụ cột của quá trình can thiệp

Gia đình giữ vai trò trung tâm trong:

  • Nhận diện sớm dấu hiệu

  • Đồng hành cùng chuyên gia

  • Tạo môi trường ổn định, nhất quán

  • Tôn trọng sự khác biệt của con

Can thiệp hiệu quả nhất khi gia đình trở thành một phần của đội ngũ can thiệp.

9. Cách tiếp cận nhân văn: Từ can thiệp đến tôn trọng đa dạng thần kinh

Xu hướng hiện đại nhấn mạnh khái niệm đa dạng thần kinh (neurodiversity):

  • Tự kỷ không chỉ là thách thức

  • Mà còn là một cách tồn tại khác của con người

Mục tiêu của can thiệp không phải “chuẩn hóa” trẻ, mà là:

Giúp trẻ phát triển tối đa tiềm năng, sống có ý nghĩa và được tôn trọng.

10. Kết luận

Rối loạn phổ tự kỷ ở trẻ em đòi hỏi một cách tiếp cận khoa học, liên ngành và nhân văn.
Nhận diện sớm – can thiệp đúng – đồng hành lâu dài là chìa khóa giúp trẻ nâng cao chất lượng sống và khả năng hòa nhập xã hội.


Tài liệu tham khảo

  1. American Psychiatric Association. DSM-5, 2013

  2. World Health Organization. ICD-11, 2018

  3. Lord C. et al. Nature Reviews Disease Primers, 2020

  4. Hyman S.L. et al. Pediatrics, 2020

  5. Ecker C. et al. The Lancet Neurology, 2015

  6. Kasari C. et al. Journal of Child Psychology and Psychiatry, 2015

  7. CDC – Autism Spectrum Disorder

————
Tổng hợp bởi: Bộ phận truyền thông Trăng Nhỏ

GÓC NHỎ YÊU THƯƠNG

GÓC NHỎ YÊU THƯƠNG

31/01/2026

Kính gửi Quý Nhà Hảo Tâm, Quý Mạnh Thường Quân

Chúng tôi trân trọng gửi đến Quý vị lời chào và lời tri ân sâu sắc.

Trung tâm Trăng Nhỏ là Trung tâm nuôi dạy trẻ khuyết tật và trẻ tự kỷ

Tại Trung tâm Trăng Nhỏ, mỗi ngày là một cuộc chạy đua với thời gian của các em nhỏ trong phổ tự kỷ. Với các con, can thiệp sớm và liên tục chính là chìa khóa quan trọng nhất để mở ra cơ hội giao tiếp, học tập, hòa nhập và từng bước tiến gần hơn tới một cuộc sống độc lập, bình thường.

Tuy nhiên, thực tế vẫn còn nhiều em nhỏ có hoàn cảnh khó khăn, cha mẹ không đủ khả năng tài chính để duy trì học phí cho con. Chỉ một vài tháng gián đoạn can thiệp cũng có thể khiến các con mất đi cơ hội quý giá không thể quay lại.

Với tất cả sự trân trọng, chúng tôi tha thiết kêu gọi sự chung tay của Quý Mạnh Thường Quân thông qua hình thức:

  • Tài trợ học phí cho một cháu hoặc nhiều cháu
  • Tài trợ theo từng tháng hoặc nhiều tháng
  • Hoặc Quý vị có thể chuyển cho Trung tâm để Trung tâm phân bổ đến các cháu

Mỗi sự hỗ trợ của Quý vị không chỉ là học phí, mà là:

  • Một cơ hội được tiếp tục học tập
  • Một hành trình can thiệp không bị đứt gãy
  • Một tương lai được thắp sáng cho các con và gia đình

Chúng tôi tin rằng, bằng tình yêu thương và sự sẻ chia, Quý vị đang góp phần thay đổi cuộc đời của những em bé đặc biệt – những “Trăng Nhỏ” đang nỗ lực từng ngày để hòa nhập với thế giới này.

Trung tâm Giáo dục Đặc biệt Trăng Nhỏ xin cam kết sử dụng nguồn tài trợ đúng mục đích – minh bạch – đúng đối tượng và luôn sẵn sàng cập nhật thông tin học tập của các con đến Quý Nhà Hảo Tâm.

Xin chân thành cảm ơn và kính chúc Quý vị sức khỏe, bình an và hạnh phúc.

Trân trọng,

ĐẠI DIỆN TRUNG TÂM GIÁO DỤC ĐẶC BIỆT TRĂNG NHỎ

(Vì mỗi đứa trẻ đều xứng đáng có một cơ hội được phát triển)

Giám đốc

Đỗ Thị Thu Hường


Các con nhỏ sinh ra đã vô cùng thiệt thòi khi bị bệnh bại não, bệnh down, bị thiểu năng trí tuệ, bị phổ tự kỷ, gia đình các con đã nghèo lại khó khăn vô cùng khi chạy chữa cho các con với thời gian dài, bao nhiêu năm là bấy nhiêu ngày nuốt nước mắt vào trong, chỉ mong con được bình thường mà chặng đường xa quá…

Mỗi sự sẻ chia, dù lớn hay nhỏ, đều là một vòng tay nâng đỡ, giúp các em không bị gián đoạn hành trình phát triển và hòa nhập. Mong rằng, bằng tình yêu thương và sự chung tay của cộng đồng, chúng ta sẽ cùng nhau thắp sáng hy vọng cho những mầm non đang rất cần được chở che.

Quý Nhà Hảo tâm có thể ủng hộ các con thông qua Trung tâm:

STK nhận tài trợ : 5638686868 – NH: ACB

Chủ TK: Trung tâm Nghiên cứu và Ứng dụng Tâm lý giáo dục Trăng Nhỏ

Nội dung ghi: “Ủng hộ HP Trăng Nhỏ”

(Toàn bộ số tiền nhận được sẽ được báo cáo ngay với các Mạnh Thường Quân + Hội trưởng Hội Phụ huynh + các Phụ huynh và công khai trên các kênh thông tin chính thức của Trung tâm – có Ban Từ thiện phụ trách)

 Trân trọng cám ơn.

TUYỂN DỤNG GIÁO VIÊN VÀ NGƯỜI PHỤ GIÚP TRẺ

TUYỂN DỤNG GIÁO VIÊN VÀ NGƯỜI PHỤ GIÚP TRẺ

30/01/2026

Trung tâm Giáo dục Đặc biệt Trăng Nhỏ tuyển dụng nhân sự

đi làm ngay từ tháng 02/2026 tại Sài Đồng – P. Phúc Lợi – Hà Nội. 

Quận Long Biên – Hà Nội (cũ)

VỊ TRÍ TUYỂN DỤNG

  • Giáo viên lớp nhóm: 03
  • Trị liệu can thiệp: 03
  • Giáo viên kèm học sinh tại trường tiểu học: 01

Yêu cầu:

– Giáo viên tốt nghiệp các chuyên ngành Tâm lý giáo dục, công tác xã hội, giáo dục đặc biệt, giáo dục mầm non, giáo dục tiểu học, âm ngữ trị liệu… các ngành sư phạm khác…

– Giáo viên đã có kinh nghiệm

– Gv chưa có kinh nghiệm được đào tạo

– Người chăm sóc trẻ sẽ được đào tạo.

Môi trường làm việc với trẻ đặc biệt nên mong muốn tìm được các ứng viên yêu trẻ, kiên trì, nhẫn nại và nghiêm túc muốn gắn bó.

Quyền lợi:

  • Lương + thưởng: từ 8 – 12 triệu/tháng
  • Hợp đồng dài hạn, BHXH…
  • Chế độ phúc lợi: lễ tết, ốm đau, hiếu hỉ …
  • Cơ hội gắn bó lâu dài và thăng tiến.
    —————————-
    Thông tin chi tiết xin liên hệ:

    TRUNG TÂM GIÁO DỤC ĐẶC BIỆT TRĂNG NHỎ

    Điện thoại: 0345 272 499 

    Địa chỉ: Số 23 No3B Khu Đô Thị Sài Đồng, Phúc Lợi- Hà Nội – www.trangnho.com

 

NHỮNG ĐIỀU ĐẶC BIỆT VỀ TRẺ ĐẶC BIỆT

NHỮNG ĐIỀU ĐẶC BIỆT VỀ TRẺ ĐẶC BIỆT

29/01/2026

Trẻ đặc biệt là cách gọi các trẻ có tình trạng tự kỷ ( ASD = Autism Spectrum Disorder ) trẻ Tăng động giảm chú ý (ADHD = Attention-Deficit-Hyperactivity Disorder ) và trẻ Chậm phát triển Trí tuệ . Ngoài ra trẻ còn có một biệt danh là trẻ VIP ( nhân vật rất quan trọng ) và phần lớn dùng để chỉ tình trạng tự kỷ .

 Đặc biệt trong cách gọi :                                   

Trước đây có trẻ tàn tật rồi khuyết tật và có khuyết tật thể lý, khuyết tật tâm lý, khuyết tật học tập … nhưng chưa ai gọi 1 trẻ có sự khiếm khuyết là 1 nhân vật rất quan trọng ( Very Important Person = VIP ) bây giờ thì gọi trẻ VIP thì ai cũng hiểu trẻ đó là ai !

 Đặc biệt trong chẩn đoán :

Dù đã phát hiện gần trăm năm nay (từ năm 1943) nhưng cho đến nay vẫn chưa xác định được nguyên nhân và còn cãi nhau trong việc phân chia các loại đặc biệt và mức độ của nó !

 Đặc biệt trong nhận định :

Có 2 quan điểm , một thì cứ gọi nó là bệnh , dù cũng phải công nhận là chưa có thuốc chữa, chưa có phương pháp trị liệu hiệu quả, và vì thế đã trở thành một vùng đất mầu mỡ cho các loại lang băm khai thác dựa trên nhận định : Đã là bệnh thì sẽ có thuốc chữa . Một thì gọi nó là hội chứng, tình trạng rối loạn , nhưng vẫn cứ xếp vào nhóm các rối loạn tâm thần !

 Đặc biệt trong cách can thiệp :

Có lẽ chưa có một tình trạng rối loạn về tâm lý và thần kinh nào lại có quá nhiều cách can thiệp, giáo dục, trị liệu như cái tình trạng đặc biệt này, bên cạnh hàng chục phương pháp chính thống, khoa học ( trên 27 phương pháp ) thì cũng có hàng chục phương pháp không chính thống, phản khoa học khác mà phương pháp nào cũng cho mình là hay nhất, hiệu quả nhất, dù cho đến nay chưa có một phương pháp nào phát huy được tác dụng, mà phải có sự phối hợp nhưng lại cãi nhau loạn xị là phối hợp như thế nào !

 

Đặc biệt trong việc can thiệp :

Ai cũng chấp nhận là phải can thiệp bằng các biện pháp giáo dục, và trị liệu hành vi, tâm lý …trong một thời gian dài  nhưng ai cũng muốn đi tìm một phương thuốc nhiệm mầu, có thể chữa khỏi trong một thời gian ngắn ! Trong khi có những căn bệnh hẳn hoi như tiểu đường, cao huyết áp.. thì lại sẵn sàng chịu đựng từ năm này sang năm khác.

 Đặc biệt các biện pháp can thiệp :

Có lẽ chưa có tình trạng nào mà ranh giới giữa các biện pháp lại mong manh và mâu thuẫn nhau như trong cái tình trạng đặc biệt này, có những Phu huynh một mặt vẫn đưa con đến trường can thiệp, nhưng vẫn sẵn sàng vái tứ phương với các kiểu chữa bệnh không giống ai từ cấy tế bào gốc cho đến cạo gió, hay cúng bái ! Đặc biệt là sau bất cứ biện pháp nào, phụ huynh cũng thấy con “ tiến bộ” có khi đôi chút, có khi “hàng ngày” nhưng thực sự tiến bộ thì lại không đánh giá được !

Đặc biệt là với các phương pháp phản khoa học, với các loại thực phẩn chức năng đụng đâu bổ đó, ai cũng thấy là đó chỉ là những quảng cáo nhập nhằng và láo toét. Thế nhưng lại có khá nhiều chuyên gia, bác sĩ , giáo viên …chỉ thích ngậm miệng có khi vì tiền, có khi vì ngại va chạm và hầu hết chỉ biết giương mắt nhìn các hãng sản xuất lột từng đồng bạc của phụ huynh !

 Đặc biệt trong những người can thiệp :

Chưa có một tình trạng rối loạn tâm lý và thần kinh  nào mà nhiều vai trò cùng nhảy vào can thiệp bằng tình trạng này, từ các giáo viên mẫu giáo, các sinh viên tâm lý, sư phạm, hay kế toán, tài chính, ngoại thương … cho đến các phụ huynh tốt nghiệp từ đủ các trường hoặc chỉ theo kinh nghiệm bản thân .  Từ các chuyên viên có chuyên môn cho đến không có chuyên môn trong nhiều lĩnh vực khác nhau, sau một vài khóa tập huấn trong và ngoài nước là đều có thể can thiệp cho trẻ theo nhiều kiểu khác nhau một cách vô tư, miễn là thuyết phục được phụ huynh.

Đặc biệt hơn nữa là ai cũng thấy cần có sự phối hợp giữa các chuyên viên các ngành khác nhau, nhưng đến nay thì chưa ai có thể kết hợp được !

Cái đặc biệt nhất là ai cũng thừa nhận là phụ huynh có vai trò quan trọng, và cũng có rất nhiều khóa huấn luyện mở ra cho phụ huynh học cách dạy con , nhưng ngoài một số có “ năng lực thiên phú” hay có “ khiếu dạy con” hoặc may mắn là con không nặng. Để từ đó có được những kết quả nhất định, thì hầu hết phụ huynh đều kêu khó, không có thì giờ cho con, dù có thể mang con đi đến hết chỗ này đến chỗ khác để chữa ! Hầu hết chỉ đi học cho biết rồi về nhà kiếm giáo viên đến dạy !

 Đặc biệt trong quan điểm về can thiệp : 

Ai cũng nghĩ  là phải dạy  thì trẻ mới tiến bộ, nhưng trẻ tiến bộ thực sự là nhờ những biện pháp tác động như các hoạt động chơi cũng như các hoạt động trong gia đình , nhưng phụ huynh lại cứ muốn cho con đi học ở các lớp, các trung tâm càng nhiều càng tốt !

Đặc biệt là trẻ hầu hết đều có khó khăn về ngôn ngữ, giao tiếp, vận động, hành vi và cả giác quan, mà chương trình can thiệp phải là những biện pháp tác động về nhiều mặt, nhưng hầu như ai cũng quan tâm đến việc tập sao cho trẻ nói được !  Chỉ cân trẻ đụng đâu nói đó là coi như một sự thành công lớn, vì thế mọi hoạt động dạy hầu như tập trung vào việc này, mà không nghĩ đến các biện pháp tác động khác.

Cũng còn nhiều cái đặc biệt nữa, như đặc biệt về các tài liệu , sách vở, trang web và các loại thông tin các kiểu, chưa từng có tình trạng rối loạn nào được nói nhiều đến như thế này . Nếu có ai bỏ công ra đọc hết, chắc không tẩu hỏa nhập ma thì cũng vừa đi vừa cười, nhưng vẫn thích gom góp các tài liệu, bất cứ ai đưa lên mạng cái gì mới hay cũ cũng nhảy vào xin chia sẻ , có khi mang về dùng, có khi mang về ..bán nhưng hầu hết có lẽ chỉ mang về cất trong máy tính mà có khi nếu lôi ra xem thì cũng chả hiểu gì, nhưng vẫn cứ thích xin  (còn mua thì chưa chắc ) !

Còn những cái Đặc biệt về chính sách , đặc biệt về hệ thống trường lớp thì chắc phải tốn vài trang giấy chưa chắc là nói được hết …. Và điều đặc biệt nhất có lẽ là cũng chưa có một tình trạng nào được nói hoài, bàn hoài, chia sẽ hoài mà vẫn không hết độ nóng của nó !
——————————————-

Tự Kỷ Không Phải Là Bệnh: Nhận Thức Đúng Về Tự Kỷ Để Hỗ Trợ Tốt Hơn

Tự Kỷ Không Phải Là Bệnh: Nhận Thức Đúng Về Tự Kỷ Để Hỗ Trợ Tốt Hơn

29/01/2026

Rối loạn phổ tự kỷ (ASD) là một tình trạng phát triển thần kinh phức tạp, đặc trưng bởi sự khác biệt trong giao tiếp, hành vi và xử lý cảm giác. Qua nhiều năm, tự kỷ thường bị hiểu lầm, và một trong những quan niệm sai lầm phổ biến nhất là coi tự kỷ là một căn bệnh cần được chữa trị.

Hiểu lầm này đã góp phần tạo ra sự kỳ thị xã hội, các phương pháp điều trị sai lệch và những chính sách chưa thực sự hỗ trợ hiệu quả cho người tự kỷ. Nghiên cứu khoa học ngày càng ủng hộ quan điểm rằng tự kỷ không phải là bệnh, mà là một sự khác biệt thần kinh tự nhiên trong hệ thần kinh con người.

Bằng cách thay đổi nhận thức đúng về tự kỷ, hiểu rằng tự kỷ không phải là bệnh hay một rối loạn cần “chữa trị” và nhìn nhận nó như một sự khác biệt thần kinh, xã hội có thể hướng đến sự chấp nhận và hỗ trợ tốt hơn cho những người tự kỷ.

Nhận Thức Đúng Về Tự Kỷ

Rối loạn phổ tự kỷ là một rối loạn phát triển thần kinh

Tự kỷ được phân loại là một rối loạn phát triển thần kinh, có nghĩa là nó liên quan đến sự khác biệt trong phát triển của não bộ, xuất hiện từ khi còn nhỏ. Mặc dù ASD được liệt kê trong Cẩm nang Chẩn đoán và Thống kê Rối loạn Tâm thần (DSM-5) và Phân loại Bệnh tật Quốc tế (ICD-11), nhưng điều này không có nghĩa rằng tự kỷ là một căn bệnh.

Thay vào đó, rối loạn phổ tự kỷ bao gồm một loạt sự khác biệt về thần kinh, như nhận thức, cảm giác và hành vi ảnh hưởng đến cách một cá nhân trải nghiệm và tương tác với thế giới.

Tự kỷ liên quan đến sự khác biệt về thần kinh

Tự kỷ có nền tảng di truyền mạnh mẽ, với các nghiên cứu cho thấy tỷ lệ di truyền của tự kỷ dao động từ 50 – 80%. Nhiều gen khác nhau có thể đóng góp vào sự phát triển của tự kỷ, ảnh hưởng đến kết nối thần kinh, xử lý cảm giác và chức năng nhận thức.

Những trẻ đặc biệt thường có sự khác biệt thần kinh, đặc biệt là trong các vùng liên quan đến xử lý xã hội và chức năng điều hành.

Có thể là hình ảnh về một hoặc nhiều người

Vì Sao Nói Tự Kỷ Không Phải Là Bệnh?

Các bệnh lý thường được định nghĩa là các tình trạng y tế gây ra suy giảm, rối loạn chức năng hoặc tổn thương mô, thường yêu cầu can thiệp y tế hoặc điều trị. Tự kỷ không đáp ứng các tiêu chí này vì:

  • Không phải là một bệnh lý nhiễm trùng – Tự kỷ không do vi khuẩn, virus hoặc các tác nhân gây bệnh khác gây ra.
  • Không có sự thoái hóa thần kinh theo thời gian – Không giống như Alzheimer hay Parkinson, rối loạn phổ tự kỷ không trở nên tồi tệ hơn theo thời gian.
  • Không cần phải “chữa trị” – Nhiều trẻ đặc biệt có thể phát triển mạnh mẽ nếu nhận được sự hỗ trợ phù hợp, thay vì can thiệp y tế.

Không giống như các bệnh lý, thường liên quan đến sự nhiễm trùng, thoái hóa hoặc rối loạn chức năng của các hệ thống sinh học cụ thể, tự kỷ là một sự khác biệt về cấu trúc và chức năng não bộ. Tự kỷ không thể bị “mắc phải” hoặc “chữa khỏi”, mà là một sự khác biệt thần kinh tồn tại suốt đời.

Có thể là hình ảnh về cây và văn bản

Những thách thức mà người tự kỷ hoặc trẻ đặc biệt đối mặt phần lớn xuất phát từ sự thiếu hòa nhập xã hội, hơn là từ bản chất của chính rối loạn này.

Quan Niệm Sai Lầm Này Đến Từ Đâu?

Bối cảnh lịch sử của nhận thức về tự kỷ

Những hiểu biết ban đầu về tự kỷ chịu ảnh hưởng từ mô hình y học về khuyết tật, trong đó các tình trạng như tự kỷ được xem là những bất thường cần được điều trị.

Vào những năm 1940 và 1950, tự kỷ bị liên hệ một cách sai lầm với việc nuôi dạy con kém hoặc con thiếu thốn tình cảm, điển hình là thuyết “bà mẹ tủ lạnh” – hay thuyết tự kỷ của Bettelheim.

Lý thuyết này tuyên bố rằng những bà mẹ xa cách về mặt cảm xúc là nguyên nhân gây ra tự kỷ. Mặc dù lý thuyết này đã bị bác bỏ hoàn toàn, nhưng nó đã góp phần duy trì quan điểm rằng tự kỷ là một tình trạng bệnh lý cần can thiệp.

Ảnh hưởng của truyền thông và văn hóa đại chúng

Truyền thông đã đóng một vai trò quan trọng trong cách công chúng nhìn nhận về hội chứng tự kỷ.

Những hình ảnh phổ biến về người tự kỷ trên phim ảnh và chương trình truyền hình đã tạo ra những hiểu lầm nghiêm trọng do không phản ánh đúng sự đa dạng của phổ tự kỷ. Ngoài ra, truyền thông cũng thường đóng khung về tự kỷ như một gánh nặng cho gia đình và xã hội, thay vì nhận ra những đóng góp và điểm mạnh của người tự kỷ.

Những câu chuyện này vô tình củng cố nỗi sợ hãi và khiến công chúng tin rằng tự kỷ là một tình trạng cần được “phòng tránh” hoặc “sửa chữa”.

Mô hình y học và thuyết thần kinh đa dạng (neurodiversity movement)

Mô hình y học truyền thống xem tự kỷ là một rối loạn cần điều trị, trong khi phong trào về thuyết thần kinh đa dạng (neurodiversity) lại xem tự kỷ là một sự đa dạng tự nhiên, được coi là những người thần kinh khác biệt (neurodivergent).

Phong trào dựa trên lý thuyết đa dạng thần kinh đã giúp nâng cao nhận thức đúng về tự kỷ

Cụ thể, các mô hình và tiếp cận y học:

  • Xem tự kỷ là một tình trạng bất thường và ảnh hưởng tiêu cực, cần được can thiệp về y tế.
  • Nhấn mạnh vào việc giảm thiểu hoặc loại bỏ các triệu chứng và hành vi của người tự kỷ.
  • Khuyến khích các biện pháp điều trị, trị liệu nhằm làm cho người tự kỷ trở nên “bình thường” hơn.

Trong khi đó, phong trào dựa trên lý thuyết đa dạng thần kinh và sự khác biệt thần kinh:

  • Nhìn nhận tự kỷ là một phần tự nhiên của sự đa dạng và sự khác biệt thần kinh hoặc các khả năng nhận thức.
  • Đề cao sự chấp nhận và hỗ trợ thích nghi cho những cá nhân khác biệt – thay vì điều trị.
  • Kêu gọi các chính sách giáo dục và xã hội giúp người tự kỷ phát huy tiềm năng thay vì cố gắng thay đổi họ.

Phong trào này, được dẫn dắt bởi chính những người tự kỷ, thách thức quan điểm rằng tự kỷ là bệnh lý tiêu cực. Từ đó, quan điểm này ủng hộ sự hòa nhập và công nhận giá trị của người tự kỷ trong xã hội.

Ảnh hưởng của khoa học giả (pseudoscience) đến nhận thức sai lệch về tự kỷ

Những quan niệm sai lầm về tự kỷ cũng bị làm trầm trọng thêm bởi những tuyên bố sai lệch, điển hình là thuyết cho rằng vaccine gây ra tự kỷ. Thực tế, không có bằng chứng khoa học nào xác nhận mối liên hệ giữa vaccine và hội chứng tự kỷ. Tuy nhiên, quan điểm sai lệch này vẫn tiếp tục lan truyền, khiến nhiều phụ huynh lo sợ và từ chối tiêm vaccine cho con.

Ngoài ra, nhiều phương pháp “điều trị” không có cơ sở khoa học đã được tiếp thị đến các bậc phụ huynh. Trong đó có thể kể đến các liệu pháp “thải độc” tự kỷ không có căn cứ khoa học và có thể gây nguy hiểm; hoặc chế độ ăn kiêng đặc biệt – cũng không có bằng chứng rõ ràng giúp giảm các triệu chứng tự kỷ. Cuối cùng là các phương pháp điều trị bằng thuốc hoặc thực phẩm chức năng không được kiểm chứng.

Mô hình y học về tự kỷ gây khó khăn hơn trong việc đưa ra nhận thức đúng về tự kỷ và trẻ đặc biệt

Hiện nay, chưa có cách để “chữa khỏi” hoàn toàn tự kỷ. Những phương pháp trên không chỉ không có tác dụng, có thể gây hại đến sức khoẻ và tài chính, mà còn củng cố niềm tin sai lầm rằng tự kỷ là một căn bệnh cần được loại bỏ.

Tác Động Của Quan Niệm Sai Lầm Về Tự Kỷ

Ảnh hưởng đến cá nhân người tự kỷ

Khi xã hội thiếu hiểu biết về việc tự kỷ không phải là bệnh, hậu quả tiêu cực có thể bao gồm:

  • Kỳ thị và phân biệt đối xử – Người tự kỷ có thể cảm thấy bị áp lực phải che giấu hành vi của mình để phù hợp với xã hội.
  • Tác động tiêu cực đến sức khỏe tâm thần – Quan điểm sai lầm này có thể dẫn đến lo lắng, trầm cảm và tự ti.
  • Thiếu quyền tự chủ – Người tự kỷ có thể bị ép buộc tham gia các phương pháp can thiệp không cần thiết hoặc có hại.

Ảnh hưởng đến xã hội và chính sách

Các chính phủ và tổ chức thường phân bổ ngân sách dựa trên quan điểm tự kỷ là một căn bệnh cần điều trị, thay vì tập trung vào việc tạo ra môi trường hỗ trợ cho trẻ đặc biệt. Điều này dẫn đến:

  • Đầu tư nhiều hơn vào “trị liệu” thay vì các công nghệ hỗ trợ hòa nhập.
  • Thiếu các chương trình nghiên cứu do chính người tự kỷ lãnh đạo.
  • Trường học và nơi làm việc không có đủ chính sách hòa nhập phù hợp.

Thách thức trong công tác vận động và hỗ trợ người tự kỷ

Nhiều tổ chức vẫn hoạt động dựa trên quan điểm tự kỷ là một tình trạng cần được “chữa khỏi”.

Điều này tạo ra xung đột giữa những nhà vận động tự kỷ – những người thúc đẩy sự chấp nhận và hòa nhập – và các tổ chức y tế và xã hội, những bên vẫn ủng hộ liệu pháp điều chỉnh hành vi nhằm giảm bớt đặc điểm của tự kỷ.

Thúc Đẩy Nhận Thức Đúng Về Tự Kỷ Trong Xã Hội

Không chỉ “nâng cao nhận thức” mà còn “thúc đẩy sự chấp nhận”

Các chiến dịch nâng cao nhận thức về tự kỷ thường tập trung vào việc mô tả tự kỷ như một vấn đề cần giải quyết, thay vì khuyến khích sự chấp nhận và hòa nhập. Tuy nhiên, điều này chưa chắc đã mang lại nhận thức đúng về tự kỷ không phải là bệnh.

Nhận thức đúng về tự kỷ còn cần có sự thúc đẩy hoà nhập và chấp nhận cho trẻ đặc biệt

Truyền thông và các bên công tác về sức khoẻ thần kinh hoặc hỗ trợ trẻ đặc biệt cần có sự thay đổi từ cách tiếp cận dựa trên “khiếm khuyết” sang tôn vinh sự đa dạng thần kinh, công nhận rằng tự kỷ là một phần tự nhiên trong phổ phát triển thần kinh của con người.

Giáo dục và đại diện trên truyền thông

Khuyến khích các mô tả chính xác về tự kỷ trên các phương tiện truyền thông có thể giúp định hình lại nhận thức của công chúng, cho cộng đồng có nhận thức đúng về tự kỷ.

Những người tự kỷ cần được tham gia vào quá trình sản xuất phim, sách và tài liệu, để đảm bảo rằng hình ảnh của họ được phản ánh chân thực và không bị bóp méo bởi những định kiến sai lầm.

Thay đổi chính sách thực tiễn giúp người tự kỷ hoà nhập

Những người hoạch định chính sách và các tổ chức cần:

  • Tài trợ cho các chương trình hỗ trợ thay vì “điều trị” tự kỷ, chẳng hạn như đào tạo nghề, giáo dục hòa nhập.
  • Khuyến khích các chính sách hỗ trợ tại trường học và nơi làm việc, giúp người tự kỷ có cơ hội học tập và làm việc bình đẳng.
  • Ủng hộ các sáng kiến do chính người tự kỷ lãnh đạo, để đảm bảo sự đại diện chân thực của họ trong quá trình ra quyết định liên quan đến các chính sách hỗ trợ người tự kỷ.

Có thể là hình ảnh về một hoặc nhiều người và văn bản

Ngoài ra, một yếu tố quan trọng chính là giúp các thành viên trong gia đình sống chung với người tự kỷ hiểu rõ và được hỗ trợ tâm lý phù hợp với chuyên gia tâm lý. Khi các thành viên trong gia đình nhận thức đúng về tự kỷ, có sự vững vàng về tâm lý và được đồng hành bởi người có chuyên môn, người tự kỷ sẽ nhận được sự hỗ trợ đúng đắn nhất.

Kết Luận

Tự kỷ không phải là bệnh, mà là một sự khác biệt về thần kinh ảnh hưởng đến cách mỗi cá nhân trải nghiệm thế giới xung quanh. Quan niệm rằng tự kỷ cần được “chữa khỏi” hoặc “điều trị” bắt nguồn từ những hiểu lầm trong lịch sử, sự mô tả sai lệch của truyền thông và mô hình y học về khuyết tật, chứ không phải từ thực tế khoa học.

Để xây dựng một xã hội hòa nhập hơn, chúng ta cần hiểu tự kỷ không phải là bệnh. Từ đó, chúng ta có thể loại bỏ góc nhìn dựa trên khiếm khuyết về tự kỷ và thúc đẩy việc nhận thức đúng về tự kỷ, cũng như việc chấp nhận, hỗ trợ và điều chỉnh phù hợp.

Bằng cách công nhận tự kỷ là một hình thức đa dạng thần kinh, xã hội có thể tiến tới một tương lai mà những người tự kỷ không chỉ được chấp nhận, mà còn được tôn vinh vì những góc nhìn và đóng góp độc đáo của họ.

Tham Khảo

Bradshaw, P., Pickett, C., & van Driel, M. L. (2021). ‘Autistic’ or ‘with autism’?: Why the way general practitioners view and talk about autism matters. Australian Journal of General Practice. Link.

Nelson, R. H. (2021). A critique of the neurodiversity view. Journal of Applied Philosophy. Link.

Pellicano, E., & den Houting, J. (2022). Annual Research Review: Shifting from ‘normal science’ to neurodiversity in autism science. Link.

Wang, C., & Wang, H. (2024). The growing challenge of autism spectrum disorder: a comprehensive review of etiology, diagnosis, and therapy in childrenAll LifeLink.
—————————————————

Giáo Dục Đặc Biệt Cho Trẻ Tự Kỷ: Những Điều Cần Biết

Giáo Dục Đặc Biệt Cho Trẻ Tự Kỷ: Những Điều Cần Biết

29/01/2026

Giáo dục đặc biệt đóng vai trò quan trọng trong việc hỗ trợ trẻ tự kỷ phát triển kỹ năng giao tiếp, học tập và hòa nhập xã hội. Không giống như giáo dục thông thường, giáo dục đặc biệt tập trung vào các phương pháp giảng dạy chuyên biệt, giúp trẻ tự kỷ phát huy tối đa tiềm năng của mình. Việc hiểu rõ về các chương trình giáo dục đặc biệt, vai trò của giáo viên và sự phối hợp từ gia đình sẽ giúp trẻ có cơ hội học tập và phát triển tốt nhất.

Có thể là hình ảnh về đồ chơi trẻ em và văn bản
Trẻ tự kỷ thường gặp khó khăn trong việc thích nghi với môi trường giáo dục truyền thống do sự khác biệt trong tư duy, giao tiếp và hành vi. Điều này có thể dẫn đến cảm giác lo lắng, căng thẳng và khó tiếp thu kiến thức theo cách thông thường. Chính vì vậy, giáo dục đặc biệt được thiết kế nhằm tạo ra một môi trường học tập phù hợp, giúp trẻ phát triển theo cách tự nhiên nhất mà không bị áp lực bởi những chuẩn mực của giáo dục đại trà.

Hiểu về giáo dục đặc biệt cho trẻ tự kỷ

Giáo dục đặc biệt là một lĩnh vực thiết kế riêng để đáp ứng nhu cầu học tập và phát triển của trẻ mắc rối loạn phát triển, bao gồm rối loạn phổ tự kỷ (ASD). Trẻ tự kỷ có những đặc điểm riêng biệt về giao tiếp, tương tác xã hội và hành vi, điều này tạo ra những thách thức nhất định trong môi trường giáo dục truyền thống. Chính vì vậy, giáo dục đặc biệt đóng vai trò quan trọng trong việc giúp trẻ thích nghi và phát triển tối đa tiềm năng của mình.

Những đặc điểm của trẻ tự kỷ cần được hỗ trợ trong giáo dục đặc biệt:

  • Khó khăn trong giao tiếp: Trẻ có thể gặp vấn đề trong việc sử dụng ngôn ngữ, biểu đạt suy nghĩ hoặc hiểu tín hiệu phi ngôn ngữ.
  • Thách thức trong tương tác xã hội: Trẻ tự kỷ có thể gặp khó khăn trong việc kết bạn, duy trì mối quan hệ hoặc hiểu các quy tắc xã hội.
  • Hành vi lặp lại và sự nhạy cảm giác quan: Một số trẻ có xu hướng thực hiện các hành vi lặp đi lặp lại hoặc nhạy cảm quá mức với âm thanh, ánh sáng và môi trường xung quanh.
  • Khả năng học tập khác biệt: Trẻ có thể học nhanh trong một số lĩnh vực nhưng lại gặp khó khăn trong những kỹ năng cơ bản.

Học sinh mắc chứng tự kỷ có thể gặp khó khăn trong việc hiểu các tín hiệu xã hội, điều chỉnh cảm giác hoặc thể hiện nhu cầu của mình một cách hiệu quả. Do đó, giáo viên cần áp dụng các phương pháp giảng dạy chuyên biệt để hỗ trợ trẻ tốt hơn. Vai trò của giáo viên giáo dục đặc biệt không chỉ là giảng dạy kiến thức mà còn giúp trẻ phát triển kỹ năng giao tiếp, kiểm soát hành vi và hòa nhập xã hội.

Không có mô tả ảnh.

Vai trò của giáo viên giáo dục đặc biệt

Giáo viên giáo dục đặc biệt đóng vai trò trung tâm trong việc hỗ trợ trẻ tự kỷ phát triển toàn diện. Họ không chỉ là người giảng dạy, mà còn là người hướng dẫn, người cố vấn và người đồng hành với trẻ trong suốt hành trình học tập và trưởng thành. Môi trường học tập của trẻ tự kỷ thường yêu cầu sự điều chỉnh linh hoạt, vì vậy giáo viên giáo dục đặc biệt cần có sự kiên nhẫn, sáng tạo và khả năng thấu hiểu sâu sắc để có thể giúp trẻ phát huy tối đa khả năng của mình.

Trách nhiệm của giáo viên giáo dục đặc biệt:

  • Xây dựng kế hoạch giảng dạy cá nhân hóa (IEP – Individualized Education Program): Mỗi trẻ tự kỷ đều có nhu cầu học tập và phát triển khác nhau, do đó giáo viên cần thiết kế chương trình học tập phù hợp với từng trẻ, tập trung vào điểm mạnh của trẻ để giúp trẻ phát triển một cách tốt nhất.
  • Hỗ trợ phát triển kỹ năng giao tiếp: Giúp trẻ học cách diễn đạt ý kiến, nhu cầu của mình một cách rõ ràng thông qua lời nói, cử chỉ hoặc các công cụ hỗ trợ giao tiếp như tranh ảnh, thiết bị điện tử.
  • Giảng dạy kỹ năng sống: Ngoài kiến thức học thuật, giáo viên còn giúp trẻ phát triển kỹ năng tự lập như ăn uống, mặc quần áo, tự chăm sóc bản thân và hòa nhập với cộng đồng.
  • Điều chỉnh phương pháp giảng dạy linh hoạt: Trẻ tự kỷ có thể tiếp thu kiến thức theo nhiều cách khác nhau, giáo viên cần linh hoạt trong việc áp dụng các phương pháp giảng dạy phù hợp để tối ưu hóa quá trình học tập.
  • Hợp tác với phụ huynh và chuyên gia: Việc kết nối với phụ huynh, các chuyên gia trị liệu và bác sĩ sẽ giúp đảm bảo trẻ nhận được sự hỗ trợ toàn diện cả ở trường học lẫn tại nhà.

Giáo viên giáo dục đặc biệt không chỉ giúp trẻ tiếp thu kiến thức, mà còn đóng vai trò quan trọng trong việc xây dựng lòng tự tin, kỹ năng tự lập và khả năng hòa nhập xã hội của trẻ tự kỷ. Chính sự tận tâm của họ là chìa khóa giúp trẻ phát triển bền vững và có một tương lai tốt đẹp hơn.

Không có mô tả ảnh.

 

Tầm quan trọng của can thiệp sớm trong giáo dục đặc biệt

Nghiên cứu đã chỉ ra rằng can thiệp sớm có thể giúp trẻ tự kỷ cải thiện đáng kể về giao tiếp, hành vi và khả năng học tập. Trẻ được hỗ trợ từ giai đoạn đầu có cơ hội tiếp thu các kỹ năng cần thiết để phát triển tốt hơn khi trưởng thành.

Lợi ích của can thiệp sớm:

  • Giúp trẻ tiếp thu kỹ năng sớm hơn: Trẻ có thể rèn luyện các kỹ năng giao tiếp, xã hội và học tập ngay từ nhỏ.
  • Tạo nền tảng vững chắc cho sự phát triển: Can thiệp sớm giúp trẻ thích nghi với môi trường học tập và xã hội dễ dàng hơn.
  • Giảm thiểu khó khăn trong tương lai: Khi trẻ nhận được hỗ trợ kịp thời, các thách thức liên quan đến tự kỷ có thể được giảm bớt.

    Không có mô tả ảnh.

Lợi ích của giáo dục đặc biệt đối với trẻ tự kỷ

Giáo dục đặc biệt không chỉ tập trung vào việc truyền đạt kiến thức mà còn giúp trẻ tự kỷ:

  • Phát triển sở thích cá nhân: Giúp trẻ khám phá những lĩnh vực mà mình yêu thích và định hướng nghề nghiệp trong tương lai.
  • Rèn luyện kỹ năng xã hội: Hỗ trợ trẻ xây dựng kỹ năng giao tiếp và tương tác với cộng đồng.
  • Tạo môi trường học tập hòa nhập: Giúp trẻ cảm thấy được thấu hiểu và hỗ trợ trong quá trình học tập.
  • Tăng cường khả năng tự lập: Các phương pháp giảng dạy cá nhân hóa giúp trẻ rèn luyện khả năng tự chăm sóc bản thân.

Phương pháp giảng dạy hiệu quả trong giáo dục đặc biệt

Các phương pháp giáo dục đặc biệt giúp nâng cao khả năng tiếp thu và phát triển của trẻ tự kỷ, bao gồm:

  • Giảng dạy có cấu trúc: Thiết lập một lịch trình rõ ràng giúp trẻ dễ dàng dự đoán các hoạt động, tạo sự ổn định và giảm bớt lo âu.
  • Can thiệp hành vi: Sử dụng phương pháp hỗ trợ hành vi tích cực (PBIS) để tăng cường hành vi tích cực và giảm thiểu hành vi tiêu cực.
  • Hỗ trợ giao tiếp: Ứng dụng các công cụ giao tiếp thay thế như hệ thống tranh ảnh (PECS), thiết bị tạo giọng nói hoặc ngôn ngữ ký hiệu giúp trẻ diễn đạt nhu cầu.
  • Đào tạo kỹ năng xã hội: Sử dụng phương pháp nhập vai, kể chuyện xã hội và các bài học thực hành để giúp trẻ phát triển khả năng tương tác.
  • Hỗ trợ giác quan: Điều chỉnh môi trường học tập nhằm tạo điều kiện thuận lợi nhất cho trẻ tiếp thu kiến thức mà không bị tác động bởi các kích thích không phù hợp.

Không có mô tả ảnh.

Kết luận

Giáo dục đặc biệt đóng vai trò vô cùng quan trọng trong việc giúp trẻ tự kỷ phát triển toàn diện, không chỉ về mặt học thuật mà còn về kỹ năng sống và hòa nhập xã hội. Việc áp dụng các phương pháp giảng dạy chuyên biệt, cùng với sự phối hợp giữa nhà trường, gia đình và chuyên gia, sẽ giúp trẻ có cơ hội phát triển tốt nhất.

Nếu bạn đang tìm kiếm chương trình giáo dục đặc biệt dành cho trẻ tự kỷ, hãy liên hệ với Trung tâm Giáo dục dặc biệt Trăng Nhỏ để được tư vấn và hỗ trợ từ các chuyên gia hàng đầu.
——————————-
Trung tâm Giáo dục dặc biệt Trăng Nhỏ
Số 23, No3 B, khu Đô Thị mới Sài Đồng, Phúc Đồng, Long Biên, Hà Nội, Hanoi, Vietnam
ĐT: 034 527 2499